Trong ba mươi năm cuối của thế kỷ XIX, lịch sử sản xuất của xã hội đã thực hiện những thay đổi quan trọng. Sản lượng công nghiệp tăng nhanh khi sử dụng lò Betxmer và lò Mactanh đánh dấu một bước cách mạng trong ngành luyện kim, đưa sản xuất thép từ 250 nghìn năm 1870 lên 28,3 triệu tấn vào năm 1900. Nhờ đó, thép được sử dụng rộng rãi trong sản xuất như sản xuất máy, đường ray, tàu, công trình xây dựng …
Việc khai thác các nguồn năng lượng mới là đặc biệt quan trọng. Ngoài máy hơi nước, từ những năm 80, còn có các tuabin chạy trên mặt nước, các tuabin liên kết với Đinama vào một máy tuabin điện, cung cấp năng lượng mạnh mẽ và rẻ tiền. Tải điện được giải quyết đã giải phóng ngành công nghiệp từ giới hạn địa lý, tạo ra khả năng sử dụng ngay cả ở những nơi cách xa nguồn nước. Nhiều ngành công nghiệp sản xuất mới xuất hiện như điện hóa học, luyện kim, hàn điện, điện … động cơ nổ được sử dụng rộng rãi trong vận tải, quân sự, cơ giới hóa nông nghiệp … khả năng của nó chỉ có thể được thúc đẩy trên cơ sở giải quyết các vấn đề nhiên liệu lỏng dầu được khai thác: vào năm 1870, sản xuất dầu trên toàn thế giới. Ngành công nghiệp hóa chất mới ra đời, phát triển rất nhanh, phục vụ ngành công nghiệp nhuộm, phân bón và chất nổ.
Cùng với ngành công nghiệp, ngành vận tải tiến triển nhanh chóng: Trong 40 năm, thời gian của Đường sắt thế giới tăng 4 lần. Trên biển, tàu sử dụng Tuybin, chạy bằng nước hoặc động cơ thay vì thuyền buồm. Các phương tiện liên lạc như báo và điện thoại ngày càng được cải thiện. Phát minh này đặc biệt quan trọng là phát minh radio và phát triển thành một ngành công nghiệp truyền thông.
Những tiến bộ kỹ thuật trên đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của sản xuất, đánh dấu một bước mới cực kỳ quan trọng.
Sự phát triển nhanh chóng của sản xuất công nghiệp đã thay đổi vai trò và tỷ lệ của mỗi quốc gia trong nền kinh tế thế giới. Bản chất phát triển thống nhất được tiết lộ rõ ràng: tốc độ công nghiệp nặng tiến triển rất nhanh so với ngành công nghiệp ánh sáng. Nông nghiệp thậm chí còn lỗi thời hơn so với ngành công nghiệp. Cuộc khủng hoảng nông nghiệp diễn ra liên tiếp vào những năm 70 và 90 do Viện lúa mì giá rẻ của Mỹ vào châu Âu, chế độ đất đai duy trì nhiều tàn dư phong kiến, việc giảm bát vẫn chậm và không đầy đủ. Tuy nhiên, tăng trưởng dân số đô thị dẫn đến nhu cầu lớn đối với các sản phẩm nông nghiệp, việc áp dụng máy móc và phân bón hóa học, các biện pháp chuyên sâu. Đã vượt qua cuộc khủng hoảng và mất cân bằng trong mỗi thời kỳ.
Tốc độ phát triển công nghiệp giữa các nước tư bản rất rõ ràng: trong giai đoạn 1871 – 1900, sản xuất gang ở Tang 1/3 trong khi Đức tăng 5 lần rưỡi và Hoa Kỳ tăng 8 lần. Nhưng đồng thời, MI và Đức kém hơn anh ta về việc đóng tàu, dệt … do đó, vị trí của nước nổi trong nền sản xuất thế giới đã thay đổi. Ông mất tình trạng độc quyền trong ngành công nghiệp. Các đế chế “trẻ” như Mỹ và Đức vươn lên hàng đầu tiên và thứ hai. Tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp Nga và Nhật Bản cũng tăng nhanh nhưng sản lượng nhỏ và không toàn diện.
Tuy nhiên, sự thay đổi trong tỷ lệ sản xuất đã không thay đổi ngay lập tức tình trạng trong kinh doanh. Ông vẫn đứng đầu, xuất khẩu 197 tổng số hàng hóa được trao đổi trên thế giới, Đức 13%, MI 12%, Pháp 9%. Sự không đầy đủ giữa các khả năng và tình trạng của mỗi quốc gia trong ngành và thương mại đã trở thành nguồn gốc của tranh chấp quốc gia của thị trường và các thuộc địa của mâu thuẫn khốc liệt giữa các đế chế.
Tình hình không cân bằng giữa các ngành công nghiệp sản xuất, giữa khả năng cung cấp và tiêu thụ (sức mua quá ít vì quần chúng bị khai thác rất nhiều), hiện tượng sản xuất võ thuật đang làm sâu sắc thêm xung đột cơ bản của nền kinh tế tư bản, dẫn đến khủng hoảng liên tiếp. Trong hai thập kỷ qua của thế kỷ XIX, 4 cuộc khủng hoảng kinh tế lớn vào năm 1873-1879, 1882-1886, 1890 và 1900-1903.
Mỗi lần khủng hoảng, các doanh nghiệp nhỏ bị phá sản, các doanh nghiệp lớn tăng cường ảnh hưởng, đẩy nhanh quá trình tập trung, dẫn đến thao tác. Cuộc khủng hoảng vào năm 1900 – 1903 có tác động mạnh mẽ đến việc thành lập sự thống trị của các tổ chức bị thao túng ở các nước tư bản.
Trong những năm 1960 và 70, tự do cạnh tranh đã phát triển lên tầm cao. Nhưng sản xuất công nghiệp tăng nhanh, dẫn đến tập trung vào sản xuất và tích lũy vốn. Một số lượng nhỏ các doanh nghiệp lớn lên “nuốt chửng các doanh nghiệp nhỏ. Trong nhiều lĩnh vực, quyền tự do cạnh tranh được thay thế dần bằng các tổ chức được thao tác dưới nhiều hình thức: các tổ chức hợp nhất phân chia thị trường tiêu dùng, xác định quy mô sản xuất), Cơ sở của cơ sở cơ sở cơ sở của nhà máy của nhà máy.
Ngân hàng từ vai trò của trung gian biến thành một nhóm độc quyền sử dụng vốn của tất cả vốn và chủ sở hữu nhỏ, sử dụng hầu hết các nguyên liệu sản xuất và nguyên liệu thô. Với số lượng vốn tư bản trong tay, ngân hàng có thể tham gia và can thiệp vào các doanh nghiệp, xuất hiện xu hướng kết hợp ngân hàng và chủ sở hữu nhà máy, hình thành vốn tài chính. Ở nhiều quốc gia, các ông chủ tài chính ít chú ý đến kinh doanh công nghiệp trong nước thường xuất khẩu và đầu tư sang các quốc gia khác để có được lợi nhuận lớn hơn nhiều. Nó tạo ra một khoản vay cân, hoàn toàn tách biệt với sản xuất, chuyên về cuộc sống. Điều đó làm tăng bản chất của lao động của người dân trong và ngoài nước. Ngay cả ở các quốc gia bị trì hoãn phát triển, xu hướng xuất khẩu vốn cũng thu hút một phần vốn đáng kể ra bên ngoài. Ví dụ, Áo – Hung đã sử dụng nhiều thủ thuật để đầu tư vào Bancer Nga và Nhật Bản, mặc dù đã nợ ở nhiều quốc gia, nhưng cũng đầu tư vào Trung Quốc và Triều Tiên. Do đó, các thuộc địa không chỉ là nơi nạo vét nguyên liệu thô và tiêu thụ hàng hóa mà còn có một ý nghĩa rất quan trọng đối với xuất khẩu vốn. Các đế chế chạy đua đến vùng đất “bỏ trống” thích hợp có nghĩa là những nơi chưa bị xâm chiếm. Lịch sử trong ba mươi năm cuối của thế kỷ XIX liên quan đến các cuộc chiến tranh xâm lược được thực hiện bởi các nước đế quốc ở Châu Á, Châu Phi và MI Latin. Ngoài các quốc gia thuộc địa lớn như Anh, Pháp, Nga .. Ngoài ra còn có nhiều quốc gia mới với các thuộc địa như Mỹ, Đức, Ý, Nhật Bản …
Rút cạn sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong 30-40 năm qua của thế kỷ XIX, Lenin đã chỉ ra: Hồi 1. Những năm 1960 và 70, cuộc thi tự do đã phát triển đến mức cực đoan. 1903: Những người đàn ông trở thành một trong những cơ sở của toàn bộ đời sống kinh tế.
Nguồn: http://mncatlinhdd.edu.vn/ Tác giả: Nguyễn Lân dũng
Giáo sư Nguyễn Lân Dũng là một trong những nhà khoa học hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực vi sinh vật học, với hơn 50 năm cống hiến cho giáo dục và nghiên cứu (Wiki). Ông là con trai của Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Lân, xuất thân từ một gia đình nổi tiếng hiếu học. Trong sự nghiệp của mình, Giáo sư đã đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng như Chủ tịch Hội các ngành Sinh học Việt Nam, Đại biểu Quốc hội và được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân vào năm 2010.
Kỷ niệm 10 năm ngày cưới gọi là gì?Hey, mọi người đã từng tham dự…
Công dụng của lá lốt nấu nước uống trị bệnh gìChào các bạn! Hôm nay…
Vấn Đề Chính Khi Lưu Trữ Dữ Liệu Trực Tuyến Là GìHi mọi người! Không…
Ngày mùng 1 tháng 6 là ngày gì?Chào mừng bạn đến với bài viết mà…
Cuộc cách mạng tư sản Anh trong thế kỷ XVII đã mang lại chiến thắng…
Bạn đang tìm kiếm một tên tiếng Anh bắt đầu trong T, nhưng mong muốn…
This website uses cookies.