Table of Contents
1. Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản
Cuộc cách mạng công nghiệp Anh bắt đầu vào nửa sau của thế kỷ thứ mười tám, gây ra những thay đổi cơ bản trong sự phát triển của quan hệ sản xuất và sản xuất. Các phát minh kỹ thuật mang lại hậu quả kinh tế cơ bản đang chuyển từ lao động thủ công sang làm việc bằng máy, thay thế công trường xây dựng thủ công bằng các doanh nghiệp hiện đại. Thay thế gió và nước bằng máy hơi nước. Kết quả là, trong một thời gian ngắn, nước Anh đã đạt được những thành tựu kinh tế lớn. Vào những năm 30-40 của thế kỷ XIX, nước Anh đã trở thành một trung tâm công nghiệp của thế giới và đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa cao với sản xuất cơ học tuyệt vời trong những năm 50 và 60. Chủ nghĩa tư bản Pháp cũng giành được những chiến thắng quan trọng, đưa Pháp lên vị thế hàng đầu của bài hát Luc, thời gian bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp sau đó và tốc độ thay đổi chậm hơn Vương quốc Anh. Ngành công nghiệp ở Đức cũng phát triển rõ ràng, đặc biệt là ngành công nghiệp ranh giới Vetxphalen, ngành công nghiệp đốt ở nhiều trung tâm công nghiệp được sinh ra với các doanh nghiệp sản xuất lớn. Nhưng nói chung, đó là những thay đổi đầu tiên bởi vì lực lượng sản xuất mới vẫn bị hạn chế bởi mối quan hệ sản xuất bán tự động và đặc điểm chính trị. Hà Lan. Bắc Mỹ và thậm chí các khu vực tương đối kém phát triển như Tiep và Áo. Treo. Ý … Tất cả đều có những bước quan trọng trong nền kinh tế công nghiệp.
Tất nhiên, sự phát triển là tất nhiên, thiết lập sự thống trị của chủ nghĩa tư nhân ở các quốc gia đã trải qua một cuộc cách mạng xã hội, hoặc ít nhất, cũng tạo ra những tiến bộ cần thiết cho chiến thắng của giai cấp tư sản cho chế độ phong kiến trong một thời gian ngắn. Trên cơ sở đó, vào những năm 50-60 của thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp cơ bản đã được hoàn thành ở hầu hết các nước phát triển của Châu Âu và Bắc Mỹ. Vào thời điểm đó, các thành phố cũng thay đổi bởi các doanh nghiệp hiện đại được trang bị máy móc và tập hợp hàng ngàn hàng ngàn công nhân. Các con đường xen kẽ kết nối các trung tâm, loại bỏ sự phân tách dài giữa các khu vực. Nhưng sự thịnh vượng đó bị chi phối bởi luật giá trị thặng dư, luật lợi nhuận khiến người lao động thực sự trở thành một mục của các nhà tư bản bị bóc lột hơn bao giờ hết. Khung cảnh tương phản giữa khu vực tư sản sang trọng và lộng lẫy với khu vực công nhân tối tăm, tồi tàn cho thấy ngày càng rõ ràng hơn. Cuộc cách mạng công nghiệp làm cho số lượng công nhân ngày càng lớn và tập trung nhưng không cải thiện cuộc sống của họ. Cảnh của họ là tối và suy giảm. Ngày lao động của các công nhân kéo dài từ 12 đến 16 giờ và chỉ bị bỏ đói. Công nhân trẻ em và phụ nữ được sử dụng rộng rãi trong điều kiện khắc nghiệt. Họ cũng bị thất nghiệp bị đe dọa bởi các cuộc khủng hoảng kinh tế, sẵn sàng hạ gục họ trên đường phố. Tác phẩm “Tình hình của giai cấp công nhân ở Anh” được xuất bản năm 1815 là một bài thơ đầy bản cáo trạng mặc dù sự khai thác áp bức của giai cấp tư sản cho công nhân. Xung đột giữa giai cấp vô sản và tư sản là không thể tránh khỏi và trở nên rất khốc liệt.
2. Phong trào đấu tranh ban đầu của giai cấp công nhân
Càng nhiều mâu thuẫn giữa tư sản và giai cấp vô sản, các công nhân càng cố gắng đấu tranh cho quyền lợi của họ. Ngay từ những ngày đầu tiên của các thợ thủ công, các công nhân đã chống lại chủ sở hữu của họ một cách tự phát và tự phát. Nhưng vào thời điểm đó, cuộc xung đột chính bao gồm xã hội là một cuộc xung đột giữa sản xuất tư bản và quan hệ sản xuất phong kiến, các công nhân đã không tấn công dữ dội vào giai cấp tư sản mà còn theo giai cấp tư sản “chống lại kẻ thù của kẻ thù”. Sự tham gia của công nhân trong các cuộc cách mạng tư sản ở châu Âu và Bắc Mỹ đã tích cực đóng góp vào lợi thế của cuộc đấu tranh chống lại chế độ phong kiến. Nhưng kết quả của bộ sưu tập rơi vào tay giai cấp tư sản.
Hình thức kháng chiến chính của người lao động là bạo lực tự phát đối với việc áp dụng máy móc. Trong cuộc chiến của cuộc cách mạng công nghiệp, họ nghĩ rằng nguồn gốc của sự đau khổ là cỗ máy. Do đó, chuyển động của việc phá vỡ máy, đập vỡ nhà máy lan truyền rất nhanh trong các trung tâm công nghiệp. Nhưng dần dần, họ thấy rằng máy móc không phải là kẻ thù thực sự và hậu quả của sự cố thường là sự đàn áp của chính phủ. Họ tiến một bước cao hơn so với đấu tranh và xây dựng các công đoàn. Vào những năm 20 và 30 của thế kỷ XIX, Vương quốc Anh có các công đoàn với chính sách công khai công nhân, chống lại các hành vi bạo lực của giai cấp tư sản. Mục đích của các công đoàn đó là yêu cầu tiền lương, tập hợp thành một lực lượng để điều chỉnh tập thể với chủ sở hữu, điều chỉnh tiền lương theo lợi nhuận của chủ sở hữu, tăng lương hoặc duy trì tiền lương khi cần thiết. Ở Anh, hầu như không có tuần nào, thậm chí không có ngày nào không có cuộc đình công chống lại mặc định có chủ ý hoặc từ chối tăng lương, nhịp đập chống lại hoặc các quy tắc khác. Các bài tập thường thất bại, là va chạm nhỏ, đã không giải quyết được bất kỳ vấn đề lớn nào.
Thông qua quá trình đấu tranh, giai cấp công nhân dẫn đầu ý thức và tổ chức hơn, họ đã tiến hành đấu tranh với quy mô lớn hơn, không chỉ là một nhà máy mà còn với toàn bộ giai cấp tư sản, không chỉ đòi hỏi lợi ích kinh tế mà còn cả các yêu cầu chính trị quan trọng. Cuộc nổi dậy của Lihong ở Pháp năm 1831 và 1834, phong trào Hiến chương ở Anh từ năm 1836 – 1848 và cuộc nổi dậy của Sradin ở Đức năm 1844 đánh dấu giai đoạn đấu tranh của giai cấp công nhân. Tuy nhiên, nó cũng tiết lộ những bất lợi lớn: không có cuộc đấu tranh khoa học và chính xác, mà không có một tổ chức lãnh đạo khôn ngoan của giai cấp công nhân. Chủ nghĩa xã hội không thể tưởng tượng được của Ximong, Phu và Ooen không vượt qua bất lợi đó. Sự ra đời của chủ nghĩa cộng sản khoa học mà người sáng lập vĩ đại là C. Marx và Ph. Angghen đặt cơ sở lý thuyết cho việc giải quyết các yêu cầu của người lao động
Nguồn: http://mncatlinhdd.edu.vn/ Tác giả: Nguyễn Lân dũng

Giáo sư Nguyễn Lân Dũng là một trong những nhà khoa học hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực vi sinh vật học, với hơn 50 năm cống hiến cho giáo dục và nghiên cứu (Wiki). Ông là con trai của Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Lân, xuất thân từ một gia đình nổi tiếng hiếu học. Trong sự nghiệp của mình, Giáo sư đã đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng như Chủ tịch Hội các ngành Sinh học Việt Nam, Đại biểu Quốc hội và được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân vào năm 2010.