Khoa học kĩ thuật

Bên cạnh tư tưởng, văn học, lịch sử, các lĩnh vực nổi bật nhất của văn hóa Trung Quốc, trong thời kỳ này, toán học, thiên văn học và y tế, v.v. cũng đạt được những thành tựu quan trọng.

Về mặt toán học, từ triều đại Hán đã biên soạn chín bài bình luận của toán học, điều này đã nâng các phương pháp tính toán diện tích đất theo các hình dạng khác nhau, tính toán khối lượng kè vào khai quật, tính toán giá thực phẩm, v.v.

Thành tựu nổi bật của toán học ở các triều đại Bắc và miền Nam là Tổ phụ Pulse (429 – 500) đã tìm thấy số lượng XES chính xác với 7 số lẻ giữa 2 số 3.1415926 và 3.1415927, phát minh của tổ Pulse này chỉ sớm hơn 1.000 năm.

Về thiên văn học, Trung Quốc có rất nhiều kiến ​​thức từ thời cổ đại. Trong triều đại Tần, Trung Quốc đã phát minh ra một lịch Nong, điều đó có nghĩa là chia một năm thành 24 giai đoạn để nông dân có thể dựa vào nó để biết mùa sản xuất. Đồng thời, từ thời nhà Han Han sau đó, các triều đại đã nhiều lần điều chỉnh lịch, vì vậy lịch ngày càng chính xác.

Nhà thiên văn học nổi tiếng ở triều đại Đông Han là Truong Hanh (78 – 139). Anh biết ánh sáng của mặt trăng là sự tiếp nhận của mặt trời. Anh ta nghĩ rằng cơ thể hình cầu giống như vỏ trứng và trái đất giống như một lòng đỏ. Một vòng của bầu trời là 365, một nửa trên trái đất, một nửa dưới trái đất. Dựa trên suy nghĩ đó, ông đã tạo ra một mô hình tự nhiên gọi là “Thần của tư tưởng”. Khi mô hình này di chuyển, các ngôi sao cũng di chuyển như tình huống thực tế trên bầu trời.

Truong Hanh cũng có rất nhiều kiến ​​thức về địa lý và địa chất. Anh ta đã tạo ra một thiết bị “địa chất” được đặt trong trận động đất có thể đo chính xác hướng của trận động đất.

Xem Thêm:  Văn học

Về y học, từ triều đại Hán, có rất nhiều bác sĩ giỏi, trong số đó nổi tiếng nhất là HOA da. Ông là người Trung Quốc đầu tiên biết cách sử dụng phẫu thuật để chữa bệnh. Ông cũng ủng hộ để thực hành cơ thể lưu thông máu và chính ông đã chuẩn bị thể dục dụng cụ “năm bị cấm”, có nghĩa là các chuyển động của 5 con vật: hổ, hươu, gấu, vượn và chim.

Các y tế và dược sĩ nổi tiếng của triều đại Minh là Ly Thoi Tran. Công việc của ông về bản thảo là một cuốn sách y học rất có giá trị. Trong tác phẩm này, ông đã giới thiệu 1558 loại thảo mộc được phát hiện bởi thế hệ trước và thêm 374 loại thảo mộc mới. Tác giả đã phân loại, đặt tên, giới thiệu bản chất, sử dụng và vẽ các cây thuốc đó. Do đó, cuốn sách này không chỉ là một tác phẩm có giá trị mà còn là một tác phẩm thực vật quan trọng.

Về mặt kỹ thuật, trong thời kỳ lịch sử này, người dân Trung Quốc có bốn phát minh rất quan trọng. Đó là một kỹ thuật in, la bàn và thuốc súng.

Cho đến khi triều đại Tây Han, ở Trung Quốc, mọi người vẫn viết trên thẻ tre hoặc lụa. Vào thế kỷ thứ nhất. CN, nhờ sự phát triển của nghề châu Phi, người lao động Trung Quốc đã phát minh ra cách làm một tờ giấy thô sơ với lụa. Đến năm 105, một triều đại Dong Hán, Thái Lan, đã phát minh ra cách sử dụng vỏ cây, lưới cũ, giẻ rách … để làm giấy. Kể từ đó, sản xuất giấy đã trở thành một nghề mới, tạo ra các điều kiện cần thiết cho sự phát triển nhanh chóng của văn hóa Trung Quốc. Các kỹ thuật làm giấy Trung Quốc đến thế kỷ thứ tám được truyền đến Ả Rập, ba hoặc bốn thế kỷ sau đó từ Ả Rập đến Tây Âu.

Các kỹ thuật in bắt đầu được phát minh từ triều đại nhà rộng, nhưng tại thời điểm đó, mọi người chỉ biết cách in trong các văn bản khác. Đến giữa thế kỷ 11 (Triều đại Song), một người bình thường tên Tat Thang đã phát minh ra cách in các chữ cái riêng biệt của Terracotta. Từ này được sắp xếp trên một tấm sắt sáp, làm nóng xong để tan chảy và để nó nguội, sáp sẽ giữ chặt từ, và do đó có thể được in. Nhược điểm của sáng chế này là từ được mòn, khó điền vào mực, in không sắc nét. Vào đầu thế kỷ thứ mười bốn, bất lợi đó đã được khắc phục bằng cách thay thế các chữ cái đất nung trong gỗ. Đến cuối thế kỷ thứ mười bốn (khởi đầu của cuộc sống Ming), kỹ thuật in được truyền đến Triều Tiên. Người Hàn Quốc đã cải thiện các chữ cái bằng gỗ của họ bằng đồng và sau đó được truyền đến Trung Quốc. Kể từ đó, nghề in ở Trung Quốc đã được cải thiện.

Xem Thêm:  Giai đoạn thứ ba (19-11-1942 đến 24-12-1943): Chiến thắng Xtalingrat và bước chuyển biến căn bản trong tiến trình Chiến tranh thế giới thứ hai

Việc phát minh ra một hướng dẫn cũng đã trải qua một quá trình dài. Từ thế kỷ thứ ba p. Ngành công nghiệp Trung Quốc đã biết các đặc tính hút sắt của đá nam châm và vào thế kỷ thứ nhất. CN biết định hướng của mình, nhưng phải đến khi Triều Tiên phát minh ra một nam châm nhân tạo. Vào thế kỷ thứ 11, mọi người bắt đầu sử dụng sắt để nghiền trên đá nam châm để thu hút từ tính và sau đó sử dụng mảnh sắt đó vào la bàn, ban đầu chỉ là một mảnh sắt có tính chất từ ​​tính xấu qua rơm trôi nổi trong một bát nước hoặc treo với sợi tơ trong gió. Phát minh của một la bàn đã tạo ra các điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển của nghề nghiệp hàng hải ở Trung Quốc.

Phát minh của thuốc súng là một thành tựu ngẫu nhiên của các học viên đan. Trong quá khứ, người dân Trung Quốc tin rằng mọi người có thể thực hành vàng và thuốc bất tử. Các nguyên liệu thô mà các học viên đan thường được sử dụng là lưu huỳnh, khớp và than gỗ. Cho đến khi triều đại Tang của mục đích chính của họ không đạt được, ngược lại, nó thường gây ra vụ nổ hoặc lửa, và do đó, tình cờ mọi người tìm cách tạo ra thuốc súng.

Vào đầu thế kỷ thứ mười, thuốc súng bắt đầu được sử dụng để chế tạo vũ khí, và bởi triều đại của bài hát đã được áp dụng rộng rãi cho việc sản xuất vũ khí thô sơ như tên lửa, cầu lửa, quạ lửa, pháo, v.v.

Xem Thêm:  Cuộc cách mạng tư sản cuối thế kỉ XIX

Phát minh của giấy, kỹ thuật in ấn, la bàn và thuốc súng là những đóng góp lớn của người dân Trung Quốc cho nền văn minh thế giới.

Ngoài những thành tựu đã nói ở trên, nghệ thuật lâu đời của Trung Quốc với trình độ cao, phong cách độc đáo thể hiện trong hội họa, điêu khắc, kiến ​​trúc, nghệ thuật công nghiệp … cũng là một lĩnh vực rất nổi tiếng.

Nói tóm lại, trong thời kỳ phong kiến, văn hóa Trung Quốc đã phát triển một cách xuất sắc. Những thành tựu lớn trong lĩnh vực này đã khiến Trung Quốc trở thành một trung tâm văn minh quan trọng ở Viễn Đông và trên toàn thế giới.

Nguồn: http://mncatlinhdd.edu.vn/ Tác giả: Nguyễn Lân dũng

Nguyễn Lân Dũng

Giáo sư Nguyễn Lân Dũng là một trong những nhà khoa học hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực vi sinh vật học, với hơn 50 năm cống hiến cho giáo dục và nghiên cứu (Wiki). Ông là con trai của Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Lân, xuất thân từ một gia đình nổi tiếng hiếu học. Trong sự nghiệp của mình, Giáo sư đã đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng như Chủ tịch Hội các ngành Sinh học Việt Nam, Đại biểu Quốc hội và được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân vào năm 2010.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *