Table of Contents
1. Cuộc đấu tranh khốc liệt – Áp -ra -ham Lincon được bầu làm tổng thống
Do sức mạnh của ngành công nghiệp chiến thắng, lợi thế của tất cả các nhà tư bản phương Bắc, điều này đã làm rung chuyển gốc rễ của chế độ nô lệ ở Hoa Kỳ. Vào giữa thế kỷ XIX, cuộc nổi dậy của nô lệ tăng lên, nô lệ đã chạy trốn khỏi các đồn điền trở nên phổ biến. Các chủ sở hữu bùng nổ muốn cứu tình hình, yêu cầu chính phủ của các quốc gia phía bắc phải bắt giữ và đưa họ trở lại nô lệ ở phía nam nô lệ để chạy trốn. Chính phủ nam đã thông qua Đảng Dân chủ trong phần lớn hai viện, chủ sở hữu của miền Nam kiểm soát quyền điều hành, sử dụng quyền lực để duy trì quyền.
Cuộc đấu tranh của hai bên ngày càng khốc liệt vào năm 1850 xoay quanh quyết định của Nebraska và Kandot, một vùng đất mới khai hoang, sẽ theo chế độ nô lệ hoặc trang trại từ điển. Các trại và người tự do đã đấu tranh để chống lại mong muốn bảo thủ của các chủ sở hữu chào đón. Theo Thỏa thuận Mitxuri vào năm 1820, kính hiển vi 36 ″ 30 sẽ chia hai vùng làm đôi và cho phép hai bên chọn chế độ mà họ tuân thủ. Cuộc đấu tranh đã dẫn đến việc thành lập hai chính quyền địa phương của hai viện lập pháp đối lập. Vào thời điểm này, chính quyền trung ương do chủ sở hữu nô lệ kiểm soát đã cố gắng giành được chủ sở hữu vụ nổ. Cuộc đấu tranh đã nổ ra quyết liệt vào năm 1854 trong cuộc bầu cử Hội đồng Kandit. Các chủ sở hữu nô lệ đã sử dụng các lực lượng vũ trang khủng bố để giành phiếu bầu, nông dân cũng sử dụng vũ trang. Cuộc đấu tranh kéo dài trong 4 năm 1854-1858 dẫn đến chiến thắng của chủ sở hữu nô lệ.
Vào tháng 5 năm 1857, sự kiện một lần nữa có tác động đến cuộc đấu tranh, đó là trường hợp của một người đàn ông da đen tên là Dret Scot. Anh ta đã sống trong một thời gian dài trong tình trạng tự do nhưng tòa án đã quyết định có chủ quyền mà không có quyền truy tố với lý do anh ta là chủ sở hữu của chủ sở hữu nô lệ mà không có quyền công dân và do đó chế độ nô lệ được tự động công nhận là một chế độ phổ biến trên khắp Hoa Kỳ. Các chủ sở hữu trang trại của đảng Cộng hòa đại diện cho hệ tư tưởng chống lại giáo viên đã hành động quyết liệt.
Hai năm sau, vào tháng 10 năm 1859, một chủ sở hữu của Virginia tên là Gion Brao đã đứng lên cuộc nổi dậy đòi hỏi phải loại bỏ chế độ nô lệ. Những kẻ nổi dậy chiếm giữ kho vũ khí, tấn công các đồn điền, bắt giữ nô lệ là con tin, yêu cầu chế độ nô lệ. Jono Brao và các con của ông đã cố gắng biến cuộc nổi dậy thành một cuộc tấn công toàn diện, phá hủy chính phủ. Nhưng quân nổi dậy còn nhỏ, chính phủ Oasinhton đã đưa quân đội phá hủy hầu hết quân đội của Jono Brao bị thương và bị bắt, sau đó bị xử tử. Trước khi bị xử tử, Jono Brao đã khẳng định ý chí của mình trước cuộc đấu tranh giải phóng tự do. “Tôi tin rằng chỉ có máu mới có thể rửa sạch tội ác của đất nước này.”
Các phong trào của các cửa hàng nhân dân đã tác động mạnh mẽ đến hai bên. Cuộc bầu cử tổng thống năm 1860 là một sự kiện phản ánh cuộc xung đột giữa Đảng Dân chủ và Cộng hòa đã phát triển đến chiều cao.
Đảng Dân chủ sinh năm 1791. Vào nửa đầu thế kỷ XIX, bài đăng này đã chứng minh lợi ích của chủ sở hữu của Đồn điền miền Nam và Ngân hàng Bắc và Thương mại Thương mại. Ngoài ra, bao gồm cả giai cấp tư sản đô thị và siêu phàm phản đối chính sách của giai cấp tư sản. Năm 1860, Đảng Dân chủ đã chia rẽ: một phần của nền dân chủ phương Bắc, bao gồm cả tư sản và chủ sở hữu nô lệ muốn củng cố nền kinh tế và địa vị của họ, họ phản đối việc duy trì chế độ nô lệ ở miền Bắc và phương Tây, một phần của nền dân chủ miền Nam, đại diện cho các lực lượng bảo thủ và phản động, họ đã cố gắng duy trì chế độ nô lệ. Trong chủ sở hữu nô lệ, cũng có một phần hòa bình hơn, đại diện cho các chủ sở hữu biên giới và một số quốc gia miền Nam. Cuộc đấu tranh cho sự phân chia là một sự phản ánh của tình hình xã hội vào Đảng Dân chủ. Đảng bị chia rẽ lực lượng trong cuộc bầu cử tổng thống
Đảng Cộng hòa được thành lập vào năm 1851, bao gồm cả người dân của Đảng Đất tự do được thành lập vào cuối những năm 40 của thế kỷ XIX, và một số đảng Dân chủ đã tách ra. Đôi cánh phải của đảng đại diện cho quyền của giai cấp tư sản và chủ sở hữu phía bắc, họ ủng hộ hạn chế chế độ nô lệ. Họ tích cực trong việc phục hồi đất phương Tây, thực hiện các quan chức thuế để đảm bảo quyền tư sản của Hoa Kỳ. Cánh trái của người bên trái bao gồm các đại biểu cấp tiến tư sản, “phác thảo” và tư sản đô thị. Chính sách của họ là yêu cầu chế độ nô lệ và không chỉ cấp đất phương Tây cho những người không có đất. Đảng Cộng hòa chưa hoàn toàn đồng ý với nhau, nhưng nó có sức mạnh của quần chúng và xu hướng lịch sử tiến bộ được quyết định bởi nền tảng sản xuất. Nó đã đạt được lợi thế ngay từ đầu. Lãnh đạo của Cộng hòa và giai cấp tư sản công nghiệp là Abraham Lincoln (Abraham Lincoln).
Abraham Lincoln (1809-1865) đến từ một chủ sở hữu nghèo ở Kentacki. Bị bắt nạt bởi các chủ sở hữu nô lệ, gia đình anh chạy đến phía tây để sống. Khi còn trẻ, anh phải làm việc chăm chỉ, nhưng nhờ vào tâm trí và lòng can đảm, anh trở thành người lãnh đạo của xu hướng mới. Năm 1848, ông được Đảng Cộng hòa bầu vào Quốc hội, vào năm 1860 để tranh cử tổng thống và ông đã giành chiến thắng.
2.
Lớp nô lệ mất lợi thế trong chính phủ ngay lập tức phản đối. Vào ngày 20 tháng 12 năm 1860, Thẻ Linna nam đã tuyển cha từ Liên bang. Sau đó, vào tháng 2 năm 1861, sáu tiểu bang, chế độ nô lệ ở miền Nam cũng tuyên bố Li Khai. Các bang Li Khai đã mở hội chúng ở Muomra (Alabama) quyết định thành lập chính phủ của riêng mình và bầu Đại tá Divit Slave ở bang miền Nam Mitxixipi làm chủ tịch. Sau đó, thêm 4 tiểu bang gia nhập thủ đô tại Richmond (Richmond) ở Virginia. Chính phủ Hiep Bang đã ra lệnh cho một quân đội 10.000 để phản đối chính quyền trung ương.
Do đó, tại thời điểm này, Hoa Kỳ có 2 tổng thống, 2 chính phủ, 2 Quốc hội và 2 hệ thống quân đội đối lập. Chính phủ của bang miền Nam đã ban hành một tuyên bố công nhận quyền sở hữu nô lệ và coi nỗ lực là một điều kiện tự nhiên của người da đen. Cuộc chiến bắt đầu và gọi là Chiến tranh Li Khai. Vào ngày 12 tháng 4 năm 1861, cuộc chiến đã nổ ra tại những người đàn ông Cardlinna, bị vướng vào vùng biển dữ dội, dọc theo sông Mitxixipi, trên vùng đất của các quốc gia miền Nam dọc theo Đại Tây Dương.
Các tàu chiến của phe liên bang phía bắc đã chặn các cảng phía nam, không để các tàu Anh và các quốc gia miền Nam. Nhưng ban đầu, các lực lượng quân sự của bang miền Nam đã giành được lợi thế. Đối với các tàu có tốc độ cao hơn việc mua của Anh, các tàu chiến Hiep Bang đã tấn công nhiều tàu chiến của Liên bang phía Bắc.
Trên chiến trường trên biển, phe liên bang đã bị hư hại nghiêm trọng, nhưng trong trận chiến dọc theo sông Mitxixipi, anh đã giành chiến thắng nhờ chỉ huy của Tướng Gran. Quân đội liên bang đã chiếm được Oocelian (1862) và Thành phố Viche (1863). Hai quốc gia dát và Akandát bị cô lập. Cảm ơn việc bắt giữ lưu vực sông Mixiipipi, Quân đội phía Bắc đã bao quanh lực lượng chính của Hiep Bang ở phía đông
Ở bờ biển phía đông, cuộc chiến không có hoàn cảnh khó khăn đối với các chủ nhà và các trại tư sản tư sản, nguyên nhân chính của sự thất bại ban đầu chủ yếu là do Lincon và phe không chắc chắn sử dụng các biện pháp quyết liệt. Ngành công nghiệp tư sản phía bắc và thương mại muốn đi đến một giải pháp hòa bình hơn. Nhưng quá trình phát triển của cuộc chiến và xu hướng nhu cầu của quần chúng đã buộc các giai cấp tư sản của ngành công nghiệp và thương mại phụ trách chỉ huy quân sự liên bang phải chấp nhận các biện pháp quyết liệt.
Đầu tháng 7 năm 1863, sau khi Genti gọt vỏ, phe liên bang đã giành chiến thắng. Tình hình quân sự hoàn toàn có lợi cho miền Bắc. Năm 1864, Lincoln chọn lại Tổng thống, Tướng Gran được Lincon bổ nhiệm làm chỉ huy quân đội. Cuộc đấu tranh đã thành công, và vào mùa xuân năm 1865, vụ tấn công thủ đô của Richmond rất khốc liệt. Tuong Soman đã tấn công Gioocgia, đánh Savanna dọc theo bờ biển phía đông nam phối hợp với đội quân chính của chỉ huy Gran -in -chief của Richmoon. Vào ngày 3 tháng 4 năm 1865, Quân đội Liên bang chiếm đóng Richmond. Thủ đô của Hiep Bang đã bị mất, một tuần sau đó, vị tướng là (Lee). Chỉ huy quân đội của các quốc gia miền Nam với 280.000 quân đã đầu hàng
Cuộc nội chiến kết thúc. Trong cuộc chiến này, cả hai bên đều mất khoảng 60.000 quân. Quân đội Liên bang đã giành chiến thắng cuối cùng, hy sinh 36.000 người.
Nguồn: http://mncatlinhdd.edu.vn/ Tác giả: Nguyễn Lân dũng

Giáo sư Nguyễn Lân Dũng là một trong những nhà khoa học hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực vi sinh vật học, với hơn 50 năm cống hiến cho giáo dục và nghiên cứu (Wiki). Ông là con trai của Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Lân, xuất thân từ một gia đình nổi tiếng hiếu học. Trong sự nghiệp của mình, Giáo sư đã đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng như Chủ tịch Hội các ngành Sinh học Việt Nam, Đại biểu Quốc hội và được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân vào năm 2010.